Niềm hoài cổ về một nét văn hóa ngày xuân qua bài thơ “ông đồ” của Vũ Đình Liên

Lượt xem:


Vũ Đình Liên (12/11/1913 – 18/01/1996), năm 2013 Kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông. Là một trong những người mở đầu và góp phần thành công trong phong trào Thơ mới bằng một kiệt tác xuất sắc đó là bài thơ Ông đồ, lần đầu in trên báo Tinh Hoa năm 1936. Trước và sau đó, Vũ Đình Liên có viết một số bài thơ khác nhưng chất lượng khá xa so với Ông đồ.

Ngày Tết, trong mỗi gia đình Việt  Nam thường không thể thiếu những món ăn vật chất lẫn tinh thần đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc như:

             Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ        

            Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh    

Đặc biệt là câu đối đỏ, ngày Tết dù có bận đến trăm công nghìn việc, dù giàu sang hay bần hàn nhà nào cũng tự tặng cho mình một câu đối, để cầu tài, cầu lộc, an khang thịnh vượng suốt một năm trời.

ong-do-xua

Đầu thế kỉ XX, trên các phố phường Hà Nội còn lưu giữa lại hình ảnh những cụ đồ nho cặm cụi đậm tô từng nét chữ “tròn, vuông tươi tắn” trên giấy điều để bán cho người Hà Thành đón Tết. “Câu đối đỏ ” cũng có lúc “hưng thịnh” nhưng cũng có lúc “suy vong” làm nao lòng người ! Hình ảnh ấy đã in sâu vào tâm trí Vũ Đình Liên và hiện hình thành bức tranh thơ giản dị mà có sức lay động sâu sắc!Người Việt xưa thường có thú chơi tao nhã là thói quen xin chữ để gửi gắm những mong ước, khát vọng an lành. Đó là chữ nho, thứ chữ tượng hình giàu ý nghĩa. Học, hiểu được chữ nho đã khó, viết được cho thật đẹp lại càng khó hơn. Người có hoa tay, viết chữ mà tưởng như vẽ những bức tranh tuyệt đẹp.

Mỗi năm hoa đào nở/ Lại thấy ông đồ già/ Bày mực tàu giấy đỏ/ Trên phố đông người qua

Hoa đào từ lâu đã trở thành sứ giả báo tin xuân. Bởi vậy nói “hoa đào nở” cũng là nhắc đến cái thời khắc chuyển giao thiêng liêng giữa năm cũ và năm mới đang về gần. Cứ khi hoa đào nở là lại thấy ông đồ già xuất hiện cùng mực tàu, giấy đỏ bên phố phường nhộn nhịp người đi lại sắm tết. Điềm đạm và lặng lẽ, ông đồ trở thành tâm điểm hoà nhập vào sự náo nức, rộn ràng của cuộc đời bằng chính cái tài năng mà ông có. Câu chuyện tiếp tục lôi cuốn người đọc bởi những câu thơ sau:

Bao nhiêu người thuê viết/ Tấm tắc ngợi khen tài/ Hoa tay thảo những nét/ Như phượng múa rồng bay

Từ phố đông, không gian được thu hẹp lại quanh chỗ ông đồ ngồi viết chữ. Câu thơ ấm ran sự sống bởi từ chỉ số lượng có tính chất phiếm định “bao nhiêu” và sự  “tấm tắc” thán phục, ngợi ca. Ngươì xưa quan niệm chữ nho là thứ chữ thánh hiền. Học chữ ấy không phải để kiếm sống mà mục đích cao nhất là để làm người, để có thể phò vua, giúp đời. Đầu thế kỉ XX, tình hình đất nước Việt Nam có sự biến động sâu sắc trên mọi lĩnh vực. Khoa thi cuối cùng của triều đình phong kiến đã làm tiêu tan bao giấc mộng vinh quy bái tổ của các đệ tử cửa Khổng sân Trình. Để tìm kế sinh nhai, họ chỉ còn một cách duy nhất là đi bán chữ như hoàn cảnh của ông đồ trong bài thơ. Dẫu việc đánh đổi chữ thánh hiền để lấy miếng cơm manh áo chỉ là việc đường cùng bất đắc dĩ, chẳng phải vui sướng, danh giá gì nhưng cái “Tấm tắc” ngợi khen của người đời cũng an ủi được phần nào nỗi niềm của những kẻ sinh bất phùng thời. Họ xúm xít lại thuê ông viết chữ, trầm trồ trước tài nghệ của ông cũng có nghĩa là còn biết trân trọng tài năng và cái đẹp. Những câu thơ tiếp theo, tác giả miêu tả cận cảnh nét bút điêu luyện của ông đồ:

Hoa tay thảo những nét/ Như phượng mua rng bay

Những dòng thơ trên gợi cho người đọc tưởng như được nhìn thấy tận mắt bàn tay có những ngón thon dài, nhỏ nhắn của ông đồ uốn lượn cây bút, từng nét chữ còn tươi màu mực dần dần hiện ra mềm mại như “Phượng múa rồng bay”. Trong những nét chữ ấy, ông đồ trải rộng lòng mình và gửi gắm tất cả cái tinh hoa, khát vọng, lý tưởng. Chính linh hồn và tâm huyết đã làm cho con chữ sống động, bay lên trong niềm hân hoan vi diệu mà cao sang, tao nhã. Nói về cái đẹp, trân trọng tài viết chữ, trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân, nhân vật Viên quản ngục từng khát khao được xin chữ của người tử tù Huấn Cao. Với ông: “Có được chữ của Huấn Cao treo trong nhà là một báu vật trên đời !”. Như vậy, ở đây cái đẹp, cái tài năng và lòng ngưỡng mộ cái đẹp cùng hòa quyện, thăng hoa!

Sang khổ thơ thứ ba bắt đầu bằng một từ “nhưng” bất ngờ đã dự báo biết bao thay đổi:

Nhưng mỗi năm mỗi vắng/ Người thuê viết nay đâu?

Người thuê viết ngày càng thưa vắng như một sự hẫng hụt, chênh vênh. Để rồi tự nhiên, câu tiếp theo phải bật ra thành câu hỏi: Những người thuê ông đồ viết chữ khi xưa nay đâu cả rồi? Câu hỏi buông lơi không có lời đáp nên cứ chập chờn, ám ảnh mãi. Người thuê viết không còn, giấy đỏ, mực thơm không được dùng đến, nên:

Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu

Nỗi buồn của con người khiến những vật vô tri vô giác cũng buồn tênh. Mực sầu tủi đọng lại trong nghiên, giấy điều phôi pha buồn không muốn thắm. Biện pháp nhân hoá đã góp phần nhấn mạnh tâm trạng của con người. Đại thi hào Nguyễn Du từng viết:

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ ?

Nếu như trước kia, sự xuất hiện của ông đồ làm không gian và lòng người thêm náo nức thì giờ đây:

Ông đồ vẫn ngồi đấy/ Qua đường không ai hay

Theo tín hiệu của hoa đào, ông đồ vẫn ngồi đấy và “bày mực tàu giấy đỏ” trên phố đông người qua lại sắm tết. Nhưng đáp lại là sự lạnh lùng, thờ ơ, vô cảm đến đáng sợ của người đời. Ông đã bị họ lãng quên, bị đẩy ra bên lề cuộc sống. Người đọc bỗng nhói lòng bởi dáng ngồi như hóa đá của ông giữa khung cảnh trời mưa bụi bay bay và những chiếc lá úa vàng, tàn tạ rơi trên trang giấy.

Lá vàng rơi trên giấy/ Ngoài trời mưa bụi bay

Ở đây cũng là mưa xuân nhưng nó không “phơi phới bay” như trong thơ của Nguyễn Bính sau này. Ông đồ hình như cứ bị chìm lấp, mờ nhạt dần trong màn mưa. Để rồi đến khổ cuối thì bóng hình ông hoàn toàn không còn nữa:

Năm nay hoa đào nở/ Không thấy ông đồ xưa

Lời thơ chơi vơi trong cảm giác thiếu vắng, mất mát. Hoa đào vẫn nở, một năm mới lại đến nhưng không còn hình ảnh ngày xưa nữa. Ngôn ngữ thơ có sự chuyển đổi tinh tế từ “ông đồ già” thành “ông đồ xưa”, biến nhân vật vĩnh viễn thành cái “Nhất khứ bất phục phản” (Một đi không trở lại). Văn minh, Âu hoá không chấp nhận, không cho ông một con đường sống nên ông phải lỗi hẹn với hoa đào. Trên cái  nền của thiên nhiên đã bộc lộ tâm trạng con người, khiến người đọc cảm thấy xót thương cho một lớp người tài hoa bị quên lãng, rồi đây họ chỉ còn lại trong miền ký ức!

Bài thơ khép lại bằng tiếng “gọi hồn” thống thiết:

 Những người muôn năm cũ/ Hồn ở đau bây giờ?

“Những người muôn năm cũ” ấy phải chăng là ông đồ, là những người thuê ông đồ viết chữ hay là một thời đã đi qua nay chỉ còn “vang bóng”? Dẫu là gọi ai thì câu thơ cũng vọng lên bao niềm tiếc nuối, xót xa cho sự phôi phai của những nét đẹp trong văn hoá cổ truyền của dân tộc. Nhà thơ gọi không chỉ thể hiện sự luyến tiếc mà còn là sự thức tỉnh mọi người hãy giữ lấy những giá trị truyền thống ngàn đời mà cha ông ta đã dày công vun đắp!

Ngày nay, cuộc sống kinh tế xã hội không ngừng phát triển. Tìm lại nguyên hình những ông đồ xưa chỉ còn là trong hoài niệm. Tuy nhiên, giữa cuộc sống xô bồ, nhộn nhịp, nét văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc vẫn còn tiềm ẩn và luôn được nâng niu, giữ gìn. Những năm gần đây, cứ mỗi độ Tết đến xuân về, nhiều gia đình đã chú ý chọn mua những câu đối đỏ, những bức thư pháp treo trong nhà để cầu an, cầu lộc. Thỉnh thoảng, bên hè phố chúng ta vẫn gặp những thanh niên trong trang phục áo the, khăn đóng hay những ông đồ nho thảo những nét bút “Phượng múa rồng bay” trên giấy điều đỏ thắm. Đấy là tín hiệu đáng mừng để tìm về một giá trị văn hóa cổ truyền đã bị lãng quên. Hy vọng rằng những câu đối đỏ, những bức thư pháp, những con chữ ấy sẽ hồi sinh và bay lên trong niềm hân hoan tươi mới như một thời hoàng kim vốn có của nó.

Huỳnh Văn Lãm – Phó trưởng phòng GD&ĐT